English Tiếng Việt
Trang chủ Khóa học Đào tạo tiếng Việt
MÔ HÌNH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Ngày 07/10/2010

Trong lịch sử dạy ngôn ngữ thứ hai, hay dạy ngoại ngữ nói chung, đã từng ra đời những phương pháp khác nhau ở những nước khác nhau. Thậm chí có những thời kỳ các phương pháp dạy ngoại ngữ xuất hiện nhiều đến mức khiến cho người dạy lẫn người học không dễ dàng gì khi chọn lựa. Xung quanh mỗi phương pháp đều có những nhận xét, phê phán xác đáng cũng như những đánh giá tích cực. Đó là điều dễ hiểu, bởi lẽ mỗi phương pháp đều có mặt mạnh, mặt yếu nhất định. Vấn đề là ở chỗ vận dụng phương pháp sao cho phù hợp với đối tượng học cụ thể, để truyền đạt một mô hình ngôn ngữ nào đó.

Các khuynh hướng lý thuyết từ giữa thế kỷ XX về ngôn ngữ thứ hai nhấn mạnh ảnh hưởng của nguyên tắc đối chiếu tương phản giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai. Trước hết các phương pháp dạy – học ngôn ngữ thứ hai được quy hợp về 4 cách tiếp cận:

 

a.      Học ngữ pháp qua dịch (Grammar – Translation)

b.      Phương pháp trực tiếp (Direct Method)

c.      Phương pháp nghe – nhìn (Audiovisual Method)

d.      Theo quan điểm nhân văn (Humanistic Approaches) 

 

Tiếp theo, lý thuyết này nhấn mạnh rằng học ngôn ngữ thứ hai là học có thói quen tạo ngôn từ gắn kết chặt chẽ với sự mô phỏng, củng cố, lặp đi lặp lại nhiều lần, xem đó là phương cách kiểm tra hành động nói năng. “Thói quen vốn có giúp cho tích lũy thêm thói quen mới. Khi học ngôn ngữ thứ hai người học phải thu nhận thêm hệ thống thói quen mới bổ sung vào các thói quen trước đã có trong tiềm năng sử dụng ngôn ngữ thứ nhất của mình” (B. Mc Laughlin, S.Robbins, 1994). Học bất kỳ một ngôn ngữ nào người học cũng gặp một trong ba trường hợp:

 

a.      Đặc điểm của ngôn ngữ thứ hai hoàn toàn giống với đặc điểm trong ngôn ngữ thứ nhất của mình;

b.      Đặc điểm của ngôn ngữ thứ hai hoàn toàn khác với đặc điểm trong ngôn ngữ thứ nhất của mình;

c.      Đặc điểm của ngôn ngữ thứ hai có phần giống lại có cả phần khác với đặc điểm trong ngôn ngữ thứ nhất của mình.

 

Và như vậy sẽ xảy ra ba loại chuyển di (transfer) từ các quy tắc của ngôn ngữ thứ nhất có tác động đến việc sử dụng các quy tắc của ngôn ngữ thứ hai: chuyển di tích cực, chuyển di tiêu cực và chuyển di lựa chọn (James C., 1980). Các loại chuyển di này tạo nên sự tác động qua lại giữa các ngôn ngữ và do đó mà nảy sinh ra hiện tượng được lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ gọi là giao thoa (interference). Giao thoa ngôn ngữ có thể làm lệch chuẩn, mà cũng có thể gây ảnh hưởng tích cực, dẫn đến sự đổi mới trong ngôn ngữ nhận (language – recipient).

 

Để vận dụng lý thuyết của ngôn ngữ học đối chiếu trong việc dạy – học ngôn ngữ thứ hai có một yêu cầu quan yếu là phải có mô hình miêu tả ngôn ngữ giống nhau, hoặc quy các mô hình miêu tả khác nhau về một mô hình tổng quát chung. Chính yêu cầu này khiến các nhà ngôn ngữ học có quan hệ với việc dạy ngôn ngữ thứ hai phải cân nhắc khi chọn một mô hình thoả đáng để dạy học ngôn ngữ thứ hai.

Dạy – học ngôn ngữ thứ hai dĩ nhiên không chỉ có ngữ pháp. Dưới đây là mô hình chung, bao gồm các phần khác nhau, trong cơ cấu tiếng Việt, có thể sử dụng để dạy – học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai.

 

1.      Ở bước đầu tiên, chữ viết được giới thiệu và cho học viên luyện tập theo cách kết hợp chặt chẽ giữa những hiểu biết về chữ viết với kỹ năng phát âm. Đây là lúc thích hợp để cho người học biết không chỉ những điều liên quan đến chữ quốc ngữ, mà cả một vài vấn đề về chữ Hán và chữ Nôm mà trong lịch sử văn hoá Việt Nam đã từng có vai trò quan trọng. Tuy luyện cho học viên cách phát âm từng tiếng (âm tiết), nhưng cách giới thiệu âm gắn với chữ viết dĩ nhiên là được dựa vào quan điểm ngữ âm – âm vị học tuyến tính.

 

2.       Để giúp học viên tích luỹ vốn từ, các đơn vị từ vựng được giới thiệu bao gồm từ đơn tiết, từ đa tiết (ghép, láy) và ngữ. Các thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ cũng được giới thiệu rải rác trong các bài học như những đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa. Chính nhờ đó mà học viên nắm được những nét thuộc về bản sắc của tiếng Việt, nét tinh tế của sự sử dụng ngôn từ, chứ không phải qua sự phân tích cú pháp. Tùy văn cảnh mà ta giới thiệu thành tố nghĩa cụ thể của từ, chứ không giới thiệu nghĩa theo các từ điển đối chiếu. Cách làm này đặc biệt quan trọng đới với lớp từ công cụ (kết từ), chỉ tố ngữ pháp, từ tình thái.

 

3.       Xác định mô hình miêu tả ngữ pháp căn cứ vào sự phân loại ngôn ngữ theo tiêu chí cú pháp cũng ngụ ý là dựa vào trật tự đối với nhau giữa ba thành phần chính trong sự kiến tạo câu: chủ ngữ (S), vị ngữ (V) và bổ ngữ (O). Các thành phần khác của câu nếu có mặt trong câu cũng được gọi theo tập hệ thuật ngữ của ngữ pháp truyền thống. Có hai mức cung cấp kiến thức ngữ pháp, đúng hơn là cú pháp, tiếng Việt cho người học. Mức thấp giới thiệu cho học viên loại câu hạt nhân: S – V, S – V – O, với V là những tính từ, những động từ đại diện cho các tiểu loại động từ khác nhau; V có cấu trúc gồm hệ từ LÀ + DANH TỪ hoặc LÀ + ĐẠI TỪ; Động từ tồn tại + Danh từ / Danh ngữ;… Các hiện tượng ngữ pháp tiếng Việt ở mức cao hơn chỉ có thể cung cấp cho học viên qua môn đọc và hiểu những bài khoá nguyên bản - tức không phải được biên soạn lại (to adapt) - thuộc các loại phong cách khác nhau. Khi học một ngoại ngữ, thông thường ai cũng muốn học được, dùng được mọi lối nói tinh tế của thứ tiếng đó. Tuy nhiên ta cũng không nên có ảo tưởng có thể đạt được điều này chỉ qua trường lớp, qua các giờ dạy – học ngữ pháp hay các kiến thức ngôn ngữ học ở nhà trường. Theo quan điểm ngôn ngữ học, các ngữ liệu ngữ pháp mang tính sư phạm có phạm vi rộng lớn để lựa chọn (D.Larsen – Freeman, 1994). Đạt tới sự thành thạo một ngoại ngữ ớ mức độ cao hay thấp còn có vấn đề định hướng và tâm lý của người học. Trong sinh hoạt giao tiếp bằng ngôn ngữ cũng từng có một số người nói viết thành thạo một ngoại ngữ khiến cho người bản ngữ phải ngạc nhiên, khen ngợi. Nhưng chắc hẳn cũng còn có những nhân tố khác góp phần không nhỏ vào kết quả ấy.

 

Việc dạy một ngôn ngữ thứ hai thường chỉ được giới hạn trong một quãng thời gian nhất định. Và kết quả đạt được cũng không thể vượt quá điều kiện về thời gian đó (cũng như một số điều kiện khác) và nhằm giúp người học sử dụng thứ tiếng mà mình học một cách thích hợp, tương xứng với công sức dành cho việc học; còn đạt được sự tinh thông một ngôn ngữ là kết quả của một quá trình phấn đấu hầu như suốt đời.

 

Chú thích:

 

1.      HỌC NGỮ PHÁP QUA DỊCH: Nhấn mạnh việc học có hệ thống các quy tắc ngữ pháp; nhớ thuộc lòng từ ngữ; dịch từng câu từ ngôn ngữ đối tượng sang ngôn ngữ nguồn (tiếng mẹ đẻ); khả năng nói chỉ cần đạt ở mức vừa phải; luyện tập ít nhiều các phát âm.

 

2.      PHƯƠNG PHÁP TRỰC TIẾP: Tránh học theo lối dịch và chú trọng việc học cách nói năng; học ngữ pháp theo lối quy nạp; nói năng khá thành thạo rồi mới chuyển sang tập đọc và viết; cố gắng tập phát âm cho gần đúng với người nói bản ngữ.

 

3.      PHƯƠNG PHÁP NGHE NHÌN: Tập trung vào các kỹ năng thực hành; ưu tiên cho việc học cách nói năng; tránh học theo lối dịch; phân tích đối chiếu để hướng dẫn cho việc học; học ngữ pháp theo lối quy nạp; học kỹ cách phát âm qua luyện tập ở các phòng thí nghiệm ngôn ngữ.

 

4.      TIẾP CẬN THEO QUAN ĐIỂM NHÂN VĂN: Hướng dẫn riêng từng người và quan tâm đến nhu cầu và thái độ của người học; chọn phương pháp dạy – học tùy định hướng của người học; chú trọng việc rèn luyện nói năng lưu loát trong giao tiếp; tránh lối luyện thực hành theo phương pháp nghe – nhìn.

 

(Trích từ “ĐI TÌM MỘT MÔ HÌNH THOẢ ĐÁNG ĐỂ DẠY – HỌC TIẾNG VIỆT NHƯ NGÔN NGỮ THỨ HAI” -  Bùi Khánh Thế )

 

Các tin liên quan Send mail Print [Trở lại]
 
Lớp dạy tiếng Việt cho tuỳ viên quân sự Úc - Tháng 9/2009
Chương Trình Đào Tạo Tiếng Việt Chuyên Sâu
Vietnamese Training Course
Hỗ trợ trực tuyến
Tư vấn 1 Tư vấn 2
(84-4)3 559 0298
info@educap.com.vn


Copyright © EDUCAP.COM.VN - 2010
Address: No 80/58A Hoang Dao Thanh Str., Thanh Xuan Dist, Hanoi
Phone: (84-4) 3 559 0298
Email: info@educap.com.vn 
Lượt truy cập: 30130